- Đánh giá tình hình và bối cảnh chung
- Kết quả đạt được: Nhận thức và hành lang pháp lý được hoàn thiện, năng lực kỹ thuật và hợp tác quốc tế nâng cao, góp phần tích cực vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia.
- Tồn tại, hạn chế: Quản lý nhà nước chưa đồng bộ, nhận thức một bộ phận cán bộ chưa đầy đủ, hạ tầng số manh mún, thiếu nhân lực chất lượng cao và ngân sách, mức độ tự chủ công nghệ chưa cao.
- Bối cảnh và thách thức: Không gian mạng trở thành không gian tác chiến mới, dữ liệu là tài nguyên chiến lược; bảo đảm an ninh mạng là vấn đề an ninh quốc gia, chủ quyền quốc gia.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm của hệ thống chính trị
- Quan điểm chỉ đạo: An ninh mạng là nhiệm vụ trọng yếu đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng; Công an và Quân đội đóng vai trò chủ chốt.
- Chuyển dịch tư duy: Chuyển từ “Phòng thủ bị động” sang “Phòng thủ chủ động, tích cực”; nhận diện và xử lý nguy cơ từ sớm, từ xa.
- Phương châm thực hiện: Quán triệt tinh thần “Tự chủ, tự lực, tự cường”, ưu tiên làm chủ công nghệ lõi và hệ sinh thái sản phẩm an ninh mạng Việt Nam.
- Yêu cầu vận hành: Hệ thống thông tin bắt buộc phải bảo đảm an toàn mới được đưa vào sử dụng; người đứng đầu cấp ủy, chính quyền chịu trách nhiệm trực tiếp.
- Xây dựng xã hội số: Đổi mới giáo dục kiến thức an ninh mạng, triển khai định danh không gian mạng quốc gia, xử lý triệt để SIM rác và tài khoản ảo.
- Hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước
- Hoàn thiện hành lang pháp lý: Rà soát, sửa đổi hệ thống pháp luật, xây dựng chế tài xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm trên không gian mạng.
- Phân định rõ trách nhiệm: Bộ Công an chủ trì quản lý nhà nước về an ninh mạng xuyên suốt hệ thống chính trị, trừ phạm vi quản lý quân sự và cơ yếu của Bộ Quốc phòng.
- Quản trị rủi ro: Xây dựng Khung quản trị rủi ro quốc gia và Bộ chỉ số đánh giá năng lực bảo đảm an ninh mạng để xếp hạng các cơ quan, địa phương.
- Trách nhiệm doanh nghiệp: Quy định chặt chẽ trách nhiệm cung cấp dữ liệu, chứng cứ điện tử của các doanh nghiệp viễn thông, tài chính để phục vụ điều tra.
- Đầu tư hạ tầng, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực
- Làm chủ công nghệ tiên tiến: Tập trung nghiên cứu mật mã kháng lượng tử, sản xuất chip bảo mật “Make in Vietnam”.
- Xây dựng kiến trúc đa lớp: Vận hành Hệ thống phòng vệ mạng quốc gia, Nền tảng điều hành an ninh mạng quốc gia; mở rộng kết nối giám sát toàn hệ thống.
- Bảo đảm nguồn lực tài chính: Tỷ lệ kinh phí chi cho an ninh mạng đạt tối thiểu 15% tổng kinh phí ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.
- Phát triển nguồn nhân lực: Thúc đẩy liên kết Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp; hướng tới mục tiêu đạt 10.000 chuyên gia an ninh mạng vào năm 2030.
- Mở rộng hợp tác quốc tế về an ninh mạng
- Đẩy mạnh hợp tác: Tăng cường chia sẻ thông tin tình báo, cảnh báo sớm và phối hợp ứng phó sự cố tấn công mạng xuyên quốc gia.
- Nâng cao vị thế quốc gia: Triển khai thực chất Công ước Hà Nội 2025; nghiên cứu đề xuất thành lập Trung tâm đào tạo khu vực về an ninh mạng tại Việt Nam.
- Tổ chức thực hiện
- Các cấp ủy và đảng ủy cơ quan: Tổ chức quán triệt, xây dựng chương trình hành động và chịu trách nhiệm về kết quả tại địa phương, đơn vị.
- Đảng ủy Công an Trung ương: Chỉ đạo Bộ Công an thực hiện thống nhất quản lý nhà nước, công bố Bộ chỉ số quốc gia và xử lý dứt điểm các vi phạm không gian mạng.
- Quân ủy Trung ương và các cơ quan chuyên ngành: Chịu trách nhiệm bảo đảm an ninh mạng lĩnh vực quân sự; tích hợp giáo dục an ninh mạng và thực hiện công tác giám sát, kiểm tra.
Chỉ thị 57-CT/TW 2025 về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị
Số ký hiệu
57-CT/TW
Ngày ban hành
31/12/2025
Loại văn bản
Chỉ thị
Người ký
Trần Cẩm Tú

